Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Thiến thảo chữa xuất huyết, đau nhức khớp

Thiến thảo có các hợp chất anthraquinon, triterpenosid, iridoid, acid hữu cơ… Khi thủy phân anthraquinon glucosid, ta có purpurin, pseudopurpurin, alizarin, purpuroxanthin, rubiadin, glucose và xylose.

Theo Đông y, thiến thảo vị đắng, tính lương; vào kinh can. Có tác dụng lương huyết, chỉ huyết, hành ứ thông kinh, chỉ đới. Chữa các chứng xuất huyết do nhiệt, huyết ứ kinh bế, chấn thương ngoại khoa, đau nhức khớp. Liều dùng: 6 - 12g. Để hành huyết nên dùng sống, cầm máu nên sao đen.

Vị thuốc thiến thảo (rễ khô của cây thiên thảo) trị chảy máu cam, đại tiện ra máu, tắc kinh…

Vị thuốc thiến thảo (rễ khô của cây thiên thảo) trị chảy máu cam, đại tiện ra máu, tắc kinh…

Thiến thảo được dùng làm thuốc trong các trường hợp:

Lương huyết cầm máu. Dùng cho các chứng huyết nhiệt, mất máu như nôn ra máu, chảy máu cam, đại tiểu tiện ra máu, lỵ ra máu, hành kinh không ngừng.

Bài 1 - Bột xuyến căn: xuyến thảo căn 12g, a giao 12g, hoàng cầm 8g, trắc bách 8g, sinh địa 20g, cam thảo 4g. Các vị nghiền thành bột hoặc sắc uống. Trị chảy máu cam, đại tiện ra máu.

Bài 2 - Thang xuyến thảo: địa hoàng 16g, hoàng cầm 8g, chi tử 8g, hoàng liên 6g; xuyến thảo căn, đương quy, địa du, đậu xị, giới bạch mỗi vị 12g. Sắc uống. Trị người nhiệt đi lỵ ra máu.

Hành ứ thông kinh. Dùng cho phụ nữ tắc kinh, sau khi đẻ huyết hôi không ra hết: xuyến căn 20g. Sắc uống.

Thanh nhiệt chỉ đới. Dùng trị xích bạch đới: dùng Thang thanh đới: sơn dược 20g; long cốt, xuyến thảo căn, hải phiêu tiêu, mẫu lệ mỗi vị 12g. Sắc uống. Trị xích bạch đới. Nếu trị xích đới, thêm bạch thược 12g, khổ sâm 12g. Nếu trị bạch đới, thêm lộc giác sương 15g.

Trị các trường hợp ra máu, nhất là đường tiêu hoá trên: xuyến thảo, tử chu thảo, bạch cập liều lượng bằng nhau. Các vị nghiền riêng thành bột mịn, trộn đều, tiệt trùng ở 1,5 Atm trong 15 phút. Mỗi lần dùng 8g, ngày uống 3 lần. Dùng ngoài: lấy một lượng vừa đủ rắc lên vết thương, ấn nhẹ.

Chữa viêm loét dạ dày tá tràng: xuyến thảo 8g, đảng sâm 16g, bạch truật 12g, bạch linh 12g, a giao 8g, cam thảo 6g, hoàng kỳ 2g. Sắc uống.

Kiêng kỵ: Người không ứ trệ không được dùng.

Lương y Thảo Nguyên

Bài thuốc phòng trị bệnh gút

Bệnh gút (còn gọi là thống phong) là một bệnh rối loạn về chuyển hóa liên quan đến chức năng thận giảm sự đào thải chất acid uric. Y học cổ truyền gọi thống phong do nhiều nguyên nhân gây ra, phần nhiều do phong thấp nhiệt tý.

Bệnh thường gặp ở nam giới ở tuổi 40 trở lên, nhất là những người chức năng can tỳ thận đã suy yếu, lại lạm dụng thức ăn bổ béo, uống rượu bia, hay lo nghĩ phiền uất càng hại đến nguyên khí mà dẫn đến tỳ thận hư suy vận hóa kém sinh đàm thấp ứ trệ lâu ngày sinh thấp nhiệt ứ kết mà đau tại khớp. Bệnh này cần phối hợp nhiều phương pháp điều trị khác nhau. Sau đây xin giới thiệu hai bài thuốc hỗ trợ phòng trị bệnh gút để bạn đọc có thể tham khảo.

Nếu gút cấp: đột nhiên khớp sưng nóng đỏ sau bữa ăn nhiều thịt cá do viêm khớp cấp “gút cấp”: Phép trị chủ yếu thanh thấp nhiệt, thông kinh mạch, kiện tỳ lợi thấp, ích can thận. Dùng bài Tứ vật đào hồng gia giảm: sinh địa 30g, đương quy 16g, xuyên khung 14g, xích thược 14g, ngưu tất 14g, đào nhân 12g, thương truật 12g, hoàng bá 14g, trạch tả 14g, tỳ giải 14g, uất kim 14g, kim ngân hoa 14g. Sắc uống ngày một thang, đợt uống 3-5 thang hoặc hơn.

Tổn thương do gút.

Trong bài thuốc: đương quy, sinh địa bổ huyết, mát huyết, dưỡng cơ khớp...; xích thược, xuyên khung, đào nhân, ngưu tất, bổ huyết hoạt huyết thông ứ, lợi khớp...; thương truật, ý dĩ kiện tỳ, hóa thấp thông kinh...; hoàng bá, trạch tả, tỳ giải, uất kim thanh thấp nhiệt, thông ứ kết, lợi tiểu, tăng đào thải acid uric… Các vị hợp lại có công năng thanh thấp nhiệt, kiện tỳ lợi thấp, thông kinh mạch, ích can thận. Sử dụng rất thích hợp cho người bệnh gút cấp hoặc gút mạn tái phát, hầu như không có tác dụng phụ. Bài này có thể phối hợp với thuốc chống viêm giảm đau tăng đào thải, giảm tổng hợp acid uric của Tây y trong thời gian đau cấp sẽ nhanh cắt cơn đau.

Nếu gút mạn(lâu ngày), tái phát nhiều lần, lưng gối yếu mỏi, khớp có u cục biến dạng, thời tiết lạnh khớp đau tăng do viêm khớp mạn “gút mạn”. Dùng bài: Độc hoạt ký sinh gia giảm: sinh địa 25g, đương quy 14g, xuyên khung 14g, xích thược 14g, nhân sâm 12g, phục linh 14g, độc hoạt 10g, tang ký sinh 20g, ngưu tất 14g, đỗ trọng 14g, tần giao10g, phòng phong 8g, quế chi 12g, cam thảo 6g, đại táo 3 quả, bạch giới tử 14g, ý dĩ 16g. Sắc uống ngày một thang, đợt uống 5-10 thang hoặc hơn.

Độc hoạt.

Trong bài thuốc: ngưu tất, đỗ trọng, thục địa bổ ích can thận, cường cân tráng cốt…; độc hoạt, tang ký sinh khu phong trừ thấp, dưỡng huyết lợi gân cơ, hoạt lạc thông tý…; xuyên khung, đương qui, bạch thược bổ huyết, hoạt huyết…; đảng sâm, phục linh, cam thảo ích khí kiện tỳ hoá thấp...; tần giao, phòng phong phát tán phong hàn thấp; quế chi thông kinh, chỉ thống tán phong hàn…; ý dĩ, giới tử thư cân tán kết thông lạc chỉ thống… Các vị hợp lại có tác dụng: bổ khí huyết ích can thận kiện tỳ trừ thấp, thông kinh lạc. Có thể uống liệu trình 10-15 thang hoặc hơn. Nếu cảm thấy người nóng có thể phối hợp uống bài trị gút cấp Tứ vật đào hồng gia giảm vài thang. Sử dụng phù hợp với những người bệnh gút mạn, khí huyết hư, có ngoại tà hàn thấp xâm nhiễm gây đau.

Lưu ý: Gút là căn bệnh cần điều thị lâu, khó khỏi hẳn, dễ tái phát, người bệnh cần hạn chế ăn đạm động vật và thực phẩm chứa nhiều chất purin; tăng cường ăn nhiều rau củ quả tươi và uống nhiều nước mát bổ tăng tác dụng đào thải acid uric như: atisô, râu mèo, mã đề, diệp hạ châu. Nếu bệnh gút đau lâu tái phát nhiều lần cần đi khám chuyên khoa để có phương thuốc phù hợp.

Lương y: Minh Phúc

Chăm sóc da bằng trà xanh

Cây trà hay cây chè có tên khoa học là Camellia sinensis, là loài cây mà lá và chồi được sử dụng để sản xuất trà.

Sau đây là một số bệnh ngoài da có thể dùng trà xanh để cải thiện:

Bệnh vảy nến:

Vảy nến là một bệnh diễn ra chủ yếu do di truyền, nhiễm khuẩn và các yếu tố khác như: căng thẳng, mệt mỏi, sử dụng thuốc sai cách và các tác động từ môi trường. Bệnh không ảnh hưởng tới sức khỏe nhưng là mối lo ngại và mặc cảm của nhiều người do mất thẩm mỹ tại các vùng da bị bệnh gây nên. Cho đến nay, vẫn chưa có phương pháp điều trị dứt điểm căn bệnh này. Cách điều trị chỉ xoay quanh việc loại bỏ các triệu chứng của bệnh từ bên ngoài. Trong đó, sử dụng trà xanh là một trong những cách như vậy.

Các chất trong trà xanh bao gồm caffeine, theocin, axít tannic…, có tác dụng như sau:

Làm chậm sự phát triển của tế bào da bị bệnh gây bong tróc. Thay vào đó, nó giúp điều chỉnh hoạt động của enzyme caspase 14, caspase 14 có liên quan đến quá trình tái tạo da.

Giúp loại bỏ tế bào da chết, xù xì do vảy nến gây ra.

Chất chống oxy hóa không chỉ có tác dụng với bệnh vảy nến mà còn có ý nghĩa tích cực với hầu hết các bộ phận trên cơ thể.

Cách dùng trà xanh trị bệnh vảy nến

- Lấy lá trà xanh tươi, rửa sạch, đun sôi cùng với nước làm nước uống trong ngày. Hoặc lấy trà khô hãm với nước sôi để uống.

- Dùng trà xanh nấu nước tắm: lá trà xanh tươi, rửa sạch, nấu nước sôi, dùng nước trà đặc pha thêm với nước lã để tắm (có thể cho thêm một chút muối làm ẩm da), trong khi tắm, dùng bã chè chà xát lên vùng da bị bệnh để tẩy tế bào da chết. Sau khi tắm xong, lau khô người cũng như vùng da vảy nến bằng khăn mềm, sạch.

Mẩn ngứa:

Khi bị mẩn ngứa do dị ứng hoặc da nổi các đốm đỏ… chọn lá trà tươi, rửa sạch (bằng muối hoặc dung dịch rửa rau), vò nát và hãm như cách pha trà để uống. Pha loãng cho âm ấm rồi tắm. Tắm 3 lần/ tuần, các vết đỏ và mẩn ngứa sẽ lặn nhanh chóng.

Da nhờn và mụn:

Trà xanh cũng rất công hiệu cho da nhờn và bị mụn, cho nên, tại các viện thẩm mỹ bác sĩ thường khuyên khách hàng rửa mặt bằng trà xanh. Cách làm như sau: dùng nước trà tươi, sau khi hãm xong và để nguội. Rửa mặt sạch, thấm gạc trang điểm vào dung dịch trà xanh vừa pha, lau mặt như dùng nước hoa hồng. Dùng trước khi đi ngủ, đều đặn mỗi ngày. Phương pháp này giúp làm sạch da, se nhỏ lỗ chân lông, ngừa lão hóa và ngừa mụn. Nếu không có thời gian, bạn có thể cho nước trà đã hãm vào chai rồi cất vào tủ lạnh, mỗi tối lấy một ít pha với nước ấm và rửa mặt. Đừng dùng nước trà quá đặc và cũng đừng rửa lại với nước, để trà thẩm thấu vào da hiệu quả hơn.

Nước trà xanh cũng đặc biệt tốt cho việc trị mụn. Khi da bị nổi mụn nhiều. Nếu là mụn cám thì rửa mặt với trà xanh ngày 2 lần (sáng và tối) để làm sạch nhờn và bụi bẩn. Nếu có mụn mủ thì dùng gạc sạch nặn hết phần mủ ra, tẩm nước trà xanh thấm lại lần nữa. Để như vậy đến sáng hôm sau, phần da sẽ se lại, khô ráo, mụn xẹp hẳn. Cứ giữ da mặt sạch, khoảng vài ngày, mụn sẽ hết.

Rôm sảy ở trẻ:

Trong nước trà xanh có rất nhiều phenol. Loại chất này có công dụng tiêu viêm, là ức chế và tiêu diệt các vi khuẩn, siêu vi trùng có hại. Bên cạnh đó, muối chứa NaCl, có khả năng thanh nhiệt giải độc, sát trùng và tiêu viêm. Khi kết hợp nước trà xanh và muối sẽ mang đến công dụng tuyệt vời, giúp tiêu diệt vi trùng rôm sảy và các vết viêm đỏ, ngứa ngáy. Thường xuyên sử dụng loại nước này sẽ phòng ngừa được tình trạng rôm sảy và bảo vệ làn da bé. Nước trà xanh pha muối trị rôm sảy rất hiệu quả.

Cách pha chế nước trà xanh với muối: nên pha trà xanh và muối theo tỉ lệ 10: 1. Ví dụ 30g trà xanh thì pha với 3g muối. Có thể hãm nước trà xanh, sau đó hòa muối vào. Hoặc đun lá trà xanh với nước và cho thêm muối. Đợi hỗn hợp nước nguội bớt, mẹ có thể dùng khăn mùi xoa sạch tẩm dung dịch nước vừa pha rửa chỗ bị rôm sảy, hoặc tắm trực tiếp trong 10 phút, chú ý giữ nước trà xanh ấm để bé không bị lạnh. Cuối cùng tráng người bé với nước sạch.

Lưu ý rằng, không nên dùng chè khô thay thế cho lá chè tươi. Pha trà xanh với muối theo tỉ lệ 10:1 rồi hòa vào nước tắm cho bé.

Một vài điều chú ý khi dùng nước trà xanh pha muối để tắm:

- Khi tắm, nên dùng nước trà xanh pha muối ở nhiệt độ ấm phù hợp, không nên để nước bị nguội. Da trẻ con rất mẫn cảm, nếu dùng nước lạnh sẽ làm lỗ chân lông bị se lạnh, mồ hôi không tiết ra được làm bệnh càng thêm nặng; nước quá nóng sẽ kích thích các chỗ rôm sảy càng phát triển.

- Sau khi tắm xong, tránh dùng các phấn thơm, phấn rôm cho trẻ. Làm như vậy sẽ tránh trường hợp nước cùng phấn làm tắc lỗ chân lông, tạo điều kiện cho rôm sảy phát triển.

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

Cây đơn kim chữa bệnh

Cây đơn kim còn có tên là đơn buốt, cúc áo, tử tô hoang, tiểu quỷ châm, cương hoa thảo, rau bô binh... là cây thảo mọc hoang, thường thấy ở ven đường, bờ ruộng, bãi hoang quanh nhà. Cây có thể cao từ 0,40-1m. Thân và cành đều có những rãnh chạy dọc, có lông. Lá mọc đối, cuống dài, lá chét hình mác, phía đáy hơi tròn, cuống ngắn, mép lá chét có răng cưa to thô. Cụm hoa hình đầu, màu vàng, mọc đơn độc hay từng đôi một ở nách lá hay đầu cành. Quả bế hình thoi, 3 cạnh, không đều, dài 1cm, trên có rãnh chạy dọc. Theo y học cổ truyền, cây đơn kim 3 lá có vị ngọt nhạt, tính bình. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tán ứ, tiêu thũng. Dùng chữa cảm, cúm, họng sưng đau, viêm ruột, trẻ nhỏ cam tích, chấn thương, mẩn ngứa, lở loét...

Một số bài thuốc thường dùng:

Cây đơn kim

- Chữa viêm họng do lạnh: Đơn kim cả hoa và lá, kim ngân hoa, sài đất, lá húng chanh, cam thảo đất, mỗi thứ 10-15g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 lần. Dùng trong 5-7 ngày.

- Chữa đau nhức do phong thấp: Lấy đơn kim 30-60g, rửa sạch sắc nước uống, chia 2 lần uống trong ngày. Dùng 10-15 ngày.

- Chữa trẻ nhỏ cam tích: Đơn kim 15g, gan lợn 30-60g. Rửa sạch lá đơn kim rồi cho lá xuống đáy nồi, đổ ngập nước, đặt gan lên phía trên hấp chín, ngày chia 2 lần, ăn liền 5-7 ngày.

- Chữa chấn thương phần mềm nhẹ, tụ máu đau nhức: Đơn kim cả lá và hoa, lá cây đại, mỗi vị 10-15g, giã nát, băng đắp vào chỗ đau, ngày 1-3 lần.

- Chữa đau răng, sâu răng: Đơn kim cả hoa và lá, rửa sạch cho vào ít muối, giã nhỏ đặt vào chỗ đau. Hoặc lấy đơn kim 50g, rửa sạch, ngâm với 250ml rượu trắng (theo tỷ lệ 1/5). Trường hợp bị đau răng, ngậm trong miệng một lúc rồi nhổ đi.

- Chữa đau lưng do làm gắng sức: Đơn kim 150-180g, rửa sạch sắc lấy nước, thêm 250g đại táo, đường đỏ và chút rượu trắng, nấu nhỏ lửa cho đến khi táo chín nhừ; Chia 4-5 lần uống trong 2 ngày, uống liền 7-10 ngày.

- Chữa mẩn ngứa do dị ứng thời tiết: Đơn kim 100-200g, nấu với 4-5 lít nước tắm, đồng thời lấy bã xát kỹ lên vết mẩn. Thường chỉ dùng 1-2 lần là có kết quả.

Ngoài ra trong nhân dân cũng có một cây khác có tên là đơn buốt hay đơn kim hay quỷ trâm thảo (Bidens bipinnata L., cùng họ cúc) cũng mọc hoang khắp nơi. Cây này chỉ khác cây trên ở chỗ số lá kép nhiều hơn 3, cụm hoa hình đầu, màu vàng.

Bác sĩ Thu Vân

Bác sĩ Thu Vân

Đậu tương vị thuốc chữa nhiều bệnh

Ngoài việc cung cấp một lượng tinh bột khá cao, các loại đậu còn hàm chứa khá nhiều chất đạm và chất béo thực phẩm rất cần thiết cho cơ thể mà lại dễ tiêu và rẻ tiền. Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng học, trong 100g hạt các loại đậu đen, đậu tương, đậu xanh, đậu trắng, bạch biển đậu có từ 20-30g protid, trong khi đó tỷ lệ này ở thịt lợn nạc, thịt bò loại I chỉ là 17-20g. Ngoài ra, trong đậu còn hàm chứa khá nhiều các sinh tố và nguyên tố vi lượng. Trong y học cổ truyền, các thầy thuốc đời xưa đã rất chú trọng dùng đậu và các sản phẩm từ đậu đơn thuần hoặc phối hợp với một số vị thuốc khác nhằm mục đích vừa bồi bổ sức khỏe vừa trị bệnh. Sau đây là một số bài thuốc bổ dưỡng bằng đậu tương để bạn đọc tham khảo.

Đậu tương giúp phòng ngừa thiếu máu.

Đậu tương giúp phòng ngừa thiếu máu.

Bài 1: Đậu tương, vừng đen, lạc, đậu xanh, đậu đen, đậu đỏ lượng bằng nhau, đường trắng lượng vừa đủ. Các vị sao thơm tán bột, trộn đều, mỗi ngày ăn 2 lần, mỗi lần 30g với nước đường hoặc sữa tươi. Công dụng: tư bổ can thận, cường than đen tóc, dùng thích hợp cho những người thể chất suy nhược, sắc mặt không tươi, tóc bạc sớm hoặc rụng nhiều, có thể dùng làm bột ăn dưỡng sinh hàng ngày.

Bài 2: Bột đậu tương 100g, bột mì 100g, bột ngô 200g, trứng gà 4 quả, đường đỏ 150g, sữa bò 150g. Ba thứ bột trộn đều cùng đường đỏ, đập trứng và đổ sữa bò vào rồi chế them nước vừa đủ, trộn kỹ, nặn thành những chiếc bánh nhỏ, nướng chín, mỗi ngày ăn 30-50g. Công dụng: kiện tỳ ích vị, tư âm bổ huyết, chuyên dùng cho sản phụ suy nhược, thiếu máu do thiếu sắt.

Bài 3: Đậu phụ 200g, đầu cá chép 1 cái, khiếm thực 25g, rau cần, hành, gừng tươi, dầu vừng và gia vị vừa đủ. Đầu cá làm sạch bổ đôi, ướp với gừng và gia vị rồi nấu sôi. Khiếm thực ngâm nước ấm cho mềm rồi xát bỏ vỏ, đậu phụ thái miếng rán vàng. Cho khiếm thực, đậu rán, rau cần và hành vào nồi nấu cùng đầu cá cho chín, dùng làm canh ăn trong ngày. Công dụng: bổ dưỡng não tủy, dùng cho người bị suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể.

Bài 4: Đậu tương 1.000g, đan sâm 500g, mật ong 250g, đường phèn 30g. Đậu tương rửa sạch, ngâm nước lạnh trong 1 giờ, sau đó đổ vào nồi ninh nhỏ lửa với 3.000ml nước cho nhừ rồi tán nhuyễn. Đan sâm rửa sạch, ngâm nước 1 giờ rồi sắc kỹ 2 lần lấy dịch chiết, bỏ bã. Trộn dịch đậu tương và dịch đan sâm với nhau, hòa mật ong và đường phèn rồi đem chứng cách thủy trong 2 giờ, để thật nguội rồi cho vào lọ, đậy kín dùng dần. Mỗi ngày ăn 2 lần, mỗi lần chừng 15g. Công dụng: tư âm nhuận táo, bổ ích ngũ tạng, thông kinh hoạt lạc, dùng rất tốt cho những người suy nhược cơ thể có vữa xơ động mạch, huyết áp cao, viêm gan mạn tính.

BS. Thanh Trà

Tỳ giải

Tỳ giải là rễ phình thành củ của cây tỳ giải (Dioscorea tokogo Makino.) hay một số loài Dioscorea khác thuộc họ Củ nâu (Dioscoreaceae). Loại cây leo, sống lâu năm, thân nhỏ gầy. Lá mọc so le, hình trái tim, cuống lá dài, có nhiều gân nổi rõ. Lá kèm biến thành tua cuốn. Rễ phình thành củ, mặt ngoài màu vàng nâu, trong màu trắng vàng, chất cứng, vị đắng. Hoa đơn tính khác gốc, mọc thành bông. Quả nhỏ có dìa như cánh.

Tỳ giải chứa saponin (dioxin và dioscorea saponoxin…) - là những nguyên liệu trung gian điều chế hormon và cortisol. Theo Đông y, tỳ giải vị đắng, tính bình; vào kinh can và vị. Có tác dụng khứ phong thấp, phân thanh khứ trọc. Dùng làm thuốc lợi tiểu chữa bạch trọc; chữa lưng gối tê đau; mụn nhọt… Liều dùng và cách dùng: 4 - 20g. Xin giới thiệu một số bài thuốc trị bệnh có tỳ giải:

Lợi niệu thông lâm

Bài 1: Chè thuốc tỳ giải: tỳ giải 16g, ích trí nhân 12g, thạch xương bồ 12g, ô dược 12g, cam thảo cành 8g. Sắc uống. Ôn thận lợi thấp. Trị tiểu đục, tiểu dắt do thấp nhiệt.

Bài 2: Chè thuốc trình thị tỳ giải: tỳ giải 8g, hoàng bá 2g, phục linh 4g, đan sâm 6g, tâm sen 3g, thạch xương bồ 2g, bạch truật 4g, xa tiền tử 6g. Sắc uống. Trị tiểu nhỏ giọt do thấp nhiệt.

Cây tỳ giải.

Bài 3: tỳ giải 12g, kim tiền thảo 16g, ý dĩ 16g, ngưu tất 12g, ô dược 12g. Sắc uống nhiều ngày. Trị tiểu đục, sỏi tiết niệu.

Bài 4: tỳ giải 12g, sinh địa 20g, hoài sơn 16g, hoàng bá 12g, đan bì 12g, sơn thù 12g, phục linh 12g, trạch tả 12g, ngưu tất 12g. Sắc uống. Chữa viêm đường tiết niệu, tiểu buốt, tiểu rắt.

Trừ thấp, giảm đau

Bài 1: Hoàn tỳ giải: tỳ giải 12g, ngưu tất 12g, bạch truật 12g, đan sâm 16g, phụ tử 8g, chỉ xác 8g. Các vị nghiền thành bột mịn, luyện với mật làm hoàn. Mỗi lần uống 12g, uống với rượu nóng. Trị tê thấp, mình mẩy và chân tay đau nhức không đi lại được.

Bài 2: tỳ giải 12g, ý dĩ 16g, ngưu tất 12g, hà thủ ô 12g, mộc qua 12g, đỗ trọng 12g, đương quy 12g, đan sâm 12g, cam thảo 4g. Sắc uống. Trị thấp nhiệt làm hai chân nhức mỏi, đi lại khó khăn.

Chữa mụn nhọt, lở ngứa: tỳ giải 20g, bạch tiên bì 12g, kim ngân 16g, thổ phục linh 32g, thương nhĩ tử 16g, uy linh tiên 12g, cam thảo 6g. Sắc uống. Chữa mụn nhọt, ngứa lở ngoài da, chảy nước vàng do thấp nhiệt.

Kiêng kỵ: Người âm hư hoả vượng, thận hư sinh ra đau lưng cấm uống.

TS. Nguyễn Đức Quang

Thuốc từ hạt vừng đen

Vừng đen (miền Nam gọi là mè đen) là một thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và vị thuốc chữa bệnh tốt. Theo y hoc cổ truyền, hạt vừng đen có tên thuốc là hắc chi ma. Tuệ Tĩnh (Nam dược thần hiệu) đã dùng hạt vừng đen sao cháy tán bột, mỗi lần uống 12g với ít rượu pha mật hoặc nước gừng để chữa đau lưng. Phụ nữ có thai sắp sinh con thường ăn chè vừng đen để dễ đẻ; sau khi đẻ thiếu sữa đem sao hạt vừng đen với muối giã ăn hàng ngày. Để chữa nhọt lở lâu ngày không liền miệng, lấy hạt vừng đen 20-30g sao cháy, giã đắp hàng ngày.

Phối hợp với nhiều vị thuốc khác, hạt vừng đen được dùng trong những trường hợp sau:

Thuốc bổ mạnh gân xương: Hạt vừng đen 300g, đồ chín, phơi khô, sao vàng; lá dâu non 500g, rửa sạch, phơi trong râm hoặc nắng nhẹ cho khô, vò nát bỏ cuống và gân lá, sấy khô. Tán hai thứ riêng biệt, rây thành bột mịn, trộn đều thêm dầu mật ong đánh nhuyễn thành khối bột không dính tay, làm viên khoảng 1g. Thuốc có màu đen, hơi mềm, vị ngọt, mùi thơm. Ngày uống 2 lần, sau bữa ăn. Người lớn, mỗi lần 10-20g; trẻ em 5-10g.

Món ăn từ hạt vừng đen.

Thuốc an thần, gây ngủ: Hạt vừng đen 40g rang chín; hạt đỗ đen 40g; sao hạt muồng 20g sao; lá vông 40g; lá dâu non 40g; lạc tiên 20g; vỏ núc nắc 12g, sao với rượu. Tất cả làm khô, giã nhỏ rây bột mịn thêm đường đủ ngọt luyện với hồ làm viên bằng hạt ngô. Người lớn ngày uống 2 lần, mỗi lần 20g.

Chè vừng đen nấu với hạt sen là món ăn vị thuốc an thần thông dụng của nhân dân ta cũng như nhân dân của một số nước Đông Nam Á và Trung Quốc.

Chữa táo bón do khô háo: Hạt vừng đen 300g rang chín, giã nhỏ, rây bột; lá cối xay 300g thái nhỏ, nấu với 2-3 lần nước, rồi cô thành cao đặc. Trộn bột với cao, làm thành bánh 5g. Ngày dùng 2 bánh, hãm với nước sôi, uống sau mỗi bữa ăn. Hoặc hạt vừng đen 20g; sinh địa, huyền sâm, mạch môn, sa sâm, mỗi vị 16g; thạch hộc 12g. Tất cả phơi khô, sao vàng, tán bột, luyện với mật ong vừa đủ để làm viên, ngày uống 10- 20g.

Chữa táo bón do trương lực cơ giảm: vừng đen 12g, đảng sâm 16g; bạch truật, sài hồ, hoài sơn, kỷ tử mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang. Hoặc vừng đen 8g; hoàng kỳ, bạch truật, đảng sâm, sài hồ, thăng ma, mỗi vị 12g; đương quy, nhục thung dung, bá tử nhân, mỗi vị 8g; trần bì, cam thảo, mỗi vị 6g. Sắc uống.

Chữa tăng huyết áp , xơ cứng mạch máu: Hạt vừng đen, rễ hà thủ ô đỏ, rễ ngưu tất, mỗi vị 100g. Tất cả phơi khô, tán nhỏ rây bột mịn, trộn với mật làm thành viên bằng hạt ngô. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 12g.

Hạt vừng đen ép sống, lấy dầu uống mỗi lần một thìa canh với ít rượu để chữa tụ máu, đau nhức, sưng tấy do ngã. Dầu vừng đen còn có tác dụng hạ thấp cholesterol trong mau vì chứa nhiều acid béo không bão hòa.

Ở Trung Quốc, người ta vẫn ưa chuộng một loại trà của cung đình xưa để bồi bổ khí huyết, làm cho da thịt săn đẹp, mịn màng, tăng cường tuổi thọ. Trà gồm hạt vừng đen 375g, gạo tẻ 750g, đậu đỏ; đậu tương, đậu xanh, mỗi thứ 700g, chè búp 500g, tiểu hồi 150g, hoa tiêu 75g, gừng khô 30g, muối tinh 30g. Tất cả sao vàng, tán nhỏ. Ngày dùng 6-10g, hãm với nước sôi để uống.

BS. Đỗ Huy Bích

Kha tử

Lịch sử sử dụng Kha tử trong Y học cổ truyền Khi nghiên cứu các loại thảo dược được sử dụng trong hệ thống Y học cổ đại Ấn Độ Ayurveda với h...